Viêm cột sống dính khớp, bệnh dễ gây tàn phế

Dấu hiệu sớm thường gặp là đau âm ỉ, mơ hồ vùng thắt lưng hoặc mông.  Bệnh nếu không phát hiện, cải thiện sớm sẽ nặng dần khiến người bệnh bị tàn phế.

Theo Ths Hồ Phạm Thục Lan viêm cột sống dính khớp là một bệnh viêm khớp mạn tính khá phổ biến ở nước ta. Viêm cột sống dính khớp như tên gọi là bệnh lý viêm của khớp trục như cột sống và khớp cùng - chậu mạn tính gây cứng và dính cột sống. Tuy nhiên các khớp ngoại biên khác, nhất là các khớp lớn ở chi dưới như khớp háng và khớp gối cũng có thể bị tổn thương. Yếu tố di truyền và yếu tố môi trường là hai nguyên nhân chính, tương tác với nhau một cách chặt chẽ để gây nên bệnh.

Bệnh nếu không được phát hiện, cải thiện sớm sẽ tiến triển nặng dần, dẫn đến dính và biến dạng toàn bộ cột sống với hai khớp háng, khiến người bệnh bị tàn phế, không đi lại được. Cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của gia đình và xã hội.

Người bệnh thường có tư thế giảm đau xấu là nằm nghiêng co lưng tôm, hay nằm ngửa kê gối cao đầu. Hậu quả là bị gù lưng, đi đứng lom khom, đầu cúi về phía trước. Gù lưng nhiều có thể khiến các xương sườn chạm vào cánh xương chậu, hạn chế giãn nở lồng ngực, gây suy hô hấp, suy tim. Các biến chứng nặng nề khác của bệnh là lao phổi, liệt hai chân do chèn ép tủy và rễ thần kinh.

Chuyên gia Thục Lan cho biết, đến nay vẫn chưa có biện pháp đặc hiệu nào có thể cải thiện dứt hẳn bệnh viêm cột sống dính khớp. Các thuốc lưu hành hiện nay chỉ đạt được mục tiêu làm giảm các đợt đau cấp, ngăn ngừa tiến triển của bệnh và bảo tồn chức năng vận động.

Chuyên gia Lan chia sẻ, trước đây, trong một thời gian cải thiện viêm cột sống dính khớp chỉ đạt được mục tiêu giảm đau, chống viêm bằng các thuốc kháng viêm nonsteroids và một số thuốc điều hòa miễn dịch (sulfasalazine, methotrexate…). Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, nhóm thuốc mới gồm các tác nhân sinh học (biologic agents) cho thấy có hiệu quả chặn đứng được sự phát triển của bệnh nếu sử dụng thuốc sớm.

Trong hầu hết trường hợp, cải thiện bao gồm dùng thuốc, kết hợp vật lý trị liệu và tập thể dục. Một vài trường hợp nặng do chẩn đoán và cải thiện muộn hoặc cải thiện không phù hợp gây biến dạng khớp, phẫu thuật chỉnh hình có thể được áp dụng để sửa chữa các tổn thương khớp do bệnh gây ra.

Một số triệu chứng của bệnh

Trong thời kỳ đầu phát bệnh, các triệu chứng thường nhẹ nên không được chú ý. Khi triệu chứng đã rõ thì bệnh đã tiến triển được nhiều tháng cho đến vài năm.

Dấu hiệu sớm thường gặp là đau âm ỉ, mơ hồ vùng thắt lưng hoặc vùng mông. Biểu hiện ở cột sống thường bắt đầu từ khớp cùng chậu nằm phía sau khung chậu, sau đó tổn thương tiếp tục lan theo chiều từ dưới lên trên cao cho đến tận đốt sống cổ. Đau có đặc điểm tăng lên về đêm và cứng cột sống, thấy rõ nhất là lúc sáng sớm mới ngủ dậy.

Ở giai đoạn muộn, người bệnh viêm cột sống dính khớp thường có các biến dạng cột sống rõ rệt như eo lưng dẹt do teo cơ cạnh cột sống, lưng gù, cổ vươn về phía trước.

Khớp háng bị viêm trong khoảng 70% trường hợp, thường xuất hiện trong 5 năm đầu bị bệnh. Viêm khớp háng có biểu hiện đau vùng bẹn, sau mông, hạn chế vận động phần hông thường ở trạng thái co gấp. Các cơ mông và đùi teo nhanh chóng.

Viêm khớp gối, chủ yếu là sưng đau, ít nóng đỏ, có thể kèm theo tràn dịch khớp, làm hạn chế các động tác gấp duỗi chân, đi lại khó khăn. Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai. Đau gót chân và đau sưng tấy ở những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận.

Ngoài ra, bệnh còn có một số biểu hiện toàn thân và ngoài khớp như sốt, gầy sút, viêm mống mắt, hở van tim, loạn nhịp tim. Những bất thường đó có thể được chẩn đoán khi chụp X-quang tim phổi, làm siêu âm tim.

Nếu có các biểu hiện nói trên, bạn cần đến khám tại bệnh viện để được các chuyên gia chuyên khoa cho chụp X-quang cột sống, đặc biệt là khớp cùng chậu và làm các xét nghiệm máu, dịch khớp. Ngày nay để chẩn đoán sớm bệnh người ta có thể áp dụng phương pháp cộng hưởng từ hay tìm yếu tố HLAB27. Xét nghiệm tốc độ máu lắng và CRP để xác định tình trạng viêm và theo dõi độ tiến triển bệnh.

 

 

Chế độ sinh hoạt, vận động khi bị viêm cột sống dính khớp

Bản thân bệnh nhân viêm cột sống dính khớp muốn giảm nhẹ đau đớn nên thường để các khớp ở trạng thái hoàn toàn không hoạt động trong thời gian dài, hậu quả là bị teo cơ bắp và co rút khớp xương, gây tàn phế. Do vậy phương pháp tốt nhất là tích cực cải thiện bằng các thuốc chống viêm để kiểm soát tình trạng đau. Khi đã ổn định tình trạng viêm đau sẽ phối hợp vật lý trị liệu phục hồi chức năng để cải thiện hoạt động các khớp xương.

Trong giai đoạn tiến triển của bệnh, cần phải nghỉ ngơi. Khi không vận động phải đặt khớp xương viêm cấp tính ở vị trí thích hợp hoặc dùng nẹp hạn chế cử động, tránh phát sinh co rút khớp. Trong thời kỳ cấp tính phải kiên trì tập duỗi thẳng chi và cột sống để giảm nhẹ các cơn đau do co rút cơ gây ra. Khi nằm nghỉ, phải nằm ngửa trên nền cứng, đầu gối thấp, chân duỗi thẳng hơi dạng để tránh các khớp bị co rút nặng thêm. Với tư thế này nếu cố định khớp thì vẫn đi lại được.

Khi bệnh đã đỡ thì cần phải tích cực vận động càng sớm càng tốt để chống dính khớp. Cần phải hiểu rằng tập vận động khớp và cải thiện bằng thuốc đều có tầm quan trọng như nhau. Bệnh nhân phải học cách tự chăm sóc bản thân và thường xuyên tập thể dục, với sự hướng dẫn của chuyên gia để duy trì được tư thế tốt nhất của cột sống, tăng cường cơ lực của các cơ cạnh cột sống và tăng hoạt động của các cơ hô hấp.

Trong thời gian bị bệnh, mỗi ngày cần hoạt động khớp xương nhẹ nhàng 1-2 lần để giúp giảm bớt co cứng cơ. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp cho phục hồi nhanh hơn. Có thể áp dụng các bài tập thể dục trị liệu hay tập bơi, chơi cầu lông, bóng bàn. Thậm chí sau khi các triệu chứng bệnh đã khỏi thì vẫn phải kiên trì vận động trong thời gian dài để duy trì các khớp xương ở trạng thái chức năng bình thường. Tránh mang vác nặng, ngồi lâu không thay đổi tư thế làm ảnh hưởng đến cột sống.

Bệnh viêm cột sống dính khớp cũng ảnh hưởng đến khả năng hoạt động tình dục của người bệnh. Ở giai đoạn muộn khi cột sống và các khớp đã biến dạng nhiều, bạn thậm chí không thể tự mình sinh hoạt bình thường được. Một số thuốc cải thiện cũng ảnh hưởng đến chức năng sinh dục.

Bệnh cũng ảnh hưởng cả đến thế hệ con cái. Nguy cơ những đứa trẻ của những người có HLA B 27 dương tính bị mắc bệnh viêm cột sống dính khớp lên tới 50%. Do vậy người bệnh viêm cột sống dính khớp nên cân nhắc kỹ khi lập gia đình và có con. Nên lập gia đình và có con sớm, ở giai đoạn đầu của bệnh khi chưa có biến dạng cột sống và các khớp.

Những người viêm cột sống dính khớp nếu thấy khớp háng không thoải mái thì nên đi kiểm tra sớm và khám định kỳ. Đối với người có khớp háng đã bị cứng đờ, không thể sinh hoạt và làm việc bình thường thì phải phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo.

Để không bị tàn phế khi viêm cột sống dính khớp

Cần phát hiện và cải thiện bệnh ở giai đoạn sớm thì kết quả mới khả quan. Mục đích của cải thiện là giảm đau, chống viêm, và vật lý trị liệu để duy trì chức năng vận động của các khớp cột sống và ngoại vi.

Điều quan trọng là cần nhận thức được tình trạng viêm mạn tính, vì vậy việc kiểm soát bệnh là suốt đời. Cần tuân thủ đúng chế độ thuốc men và tập luyện do các chuyên gia chuyên khoa chỉ định. Giai đoạn tiến triển của bệnh nếu không được cải thiện đúng, các khớp bị phá hủy nhiều và gây dính khớp ở tư thế xấu.

Ngoài bệnh chính, nhiều khi còn các bệnh kèm theo như viêm loét dạ dày, bệnh tim mạch và loãng xương. Chất lượng sống sẽ được cải thiện phụ thuộc sự tuân thủ cải thiện bệnh theo chuyên gia chuyên khoa và theo dõi chặt tác dụng phụ của thuốc.

Theo VnExpress

 



(5★ | 1438 Đánh giá)

Thoát vị đĩa đệm cột sống
Thoát vị đĩa đệm xảy ra khi bao xơ vòng sợi bị rạn rách một phần hoặc mất khả năng chun giãn, tạo điều kiện cho nhân nhầy dịch chuyển khỏi vị trí sinh lý của nó.
Chi tiết
Những quan niệm sai lầm về bệnh viêm khớp xương
Bất cứ ai cũng nên trang bị cho bản thân những kiến thức về căn bệnh này để giảm nguy cơ mắc bệnh.
Chi tiết


CHIA SẺ CỦA NGƯỜI DÙNG VỀ HIỆU QUẢ
CỦA JEX MAX

JEX MAX - GIÚP GIẢM ĐAU XƯƠNG KHỚP
TÁI TẠO SỤN KHỚP VÀ XƯƠNG DƯỚI SỤN